GIỚI THIỆU BÀI VIẾT THƠ NHẠC ĐẶC SAN TÌNH QUÊ- XUÂN TÂN MÃO- KỲ 1







CHÚC MỪNG NĂM MỚI

CHÀO NĂM 2011 !

 



LTS:

Bạn đọc thân mến!

Cứ mỗi độ xuân về Hội đồng hương Quảng Trị tại TP Đà Nẵng lại xuất bản một Đặc san được đặt tên TÌNH QUÊ và đến nay đã xuất bản được 11 số đoạn đường đi 11 năm vượt qua để đến hẹn lại lên phục vụ bạn đọc bà con hiện đang làm việc và sinh sống tại TP Đà Nẵng nói riêng và bà con Quảng Trị hiện đang ở trên cả nước nói chung . Đặc biệt 2 năm gần đây mỗi độ xuân về tại TP Đà Nẵng lại xuất hiện thêm một Đặc san mang tên QUÊ NHÀ cũng do chính anh chị em văn nghệ sĩ người Quảng Trị xuất bản. Với hai Đặc san trên và nội dung rất phong phú đa dạng... đã làm cho bạn đọc bà con người Quảng Trị mỗi lúc xuân về ấm lòng hơn.

 Được biết Đặc san QUÊ NHÀ năm nay đang khẩn trương hoàn tất để chuyển đi nhà in với nhiều cây bút và bài viết xuất sắc : Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan Đạo diễn Lê Cung Bắc Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo Nhạc sĩ Diệp Chí Huy Nhạc sĩ Minh Đường Nhà Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Đức Tiên Phan Văn Quang Thanh Tịnh Võ Văn Hoa Võ Văn Luyến Xuân Lợi Nguyễn Khắc Phước Lê Cảnh Hưng Bảo Từ Lê Tất Sử Nguyễn Kim Thanh ...Các nhà báo Lê Đức Dục Nguyễn Hoàn Hoàng Hữu Quyết Hồ Sĩ Bình Xuân Hùng Trần Trình Lãm Phan Bùi Bảo Thy...Trình bày: La Thanh Hiền- ảnh bìa: Hoạ sĩ Hoàng Đặng .

Mong các bạn đón đọc.

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu một số bài viết thơ nhạc câu đối tết của Đặc san TÌNH QUÊ XUÂN TÂN MÃO. Mong các bạn đọc đón nhận và cho ý kiến.

Chúc bạn đọc và bà con đồng hương Quảng Trị trên mọi miền một năm mới an khang- hạnh phúc

               
    
HOÀNG HỮU QUYẾT






TRANG NHẠC:




Ca khúc cho nhau tình hồng
Sáng tác: Minh Đuờng
Ca sĩ Mỹ Phượng thể hiện


TRANG VĂN
:

BÙI GIÁNG TRONG TÔI


*Hoàng Phủ Ngọc Tường


Bùi Giáng (1926-1998) là một nhà thơ có kiến thức uyên bác đã cho xuất bản trên 60 cuốn sách (14 tập thơ 19 dịch phẩm 6 sách giáo khoa và nhiều tập biên khảo triết học và thơ) và hiện còn 10 tập thơ và nhiều bản dịch chưa được công bố. Ông nổi tiếng trên văn đàn với lối thơ "xiêu đình đổ quán" mà ông có thể "nhẩm bút" cả chục bài liền trong quán rượu hay quán cà phê. Tên ông đã trở thành một huyền thoại văn chương; để hiểu thêm về ông chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết (bằng miệng có người chép lại) đầy cảm hứng riêng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.


Trước mắt tôi là chân dung của một người đứng tuổi tóc và râu cằm lưa thưa gương mặt hốc hác có một mắt mang kính đen khiến tôi nghĩ đến một câu nhạc của Trịnh Công Sơn "còn hai con mắt khóc người một con...". Đó là chân dung Bùi Giáng do bé Ký vẽ để lại cho tôi trước khi xuất ngoại. Còn lại là đầy ắp trong tôi những điều tôi nghĩ về Bùi Giáng và đã kết luận từ lâu.


Điều tôi kết luận thứ nhất rằng tên tuổi Bùi Giáng thuộc lớp thi sĩ hàng đầu của hậu bán thế kỷ XX có trước cả những tác giả của những câu thơ sang trọng kiểu này:


"Thướt tha hồn của bông hường


nghe trong hơi gió còn vương máu hồng".


Vậy cứ một nửa thế kỷ còn lại một người. Tôi nói như thế chắc sẽ làm nhiều người bực mình và tôi cũng e rằng miền Bắc ít có người biết đến Bùi Giáng thuở ông nổi tiếng. Chế Lan Viên đã khẳng định trên báo TS như thế về Hàn Mạc Tử và thơ VN tiền bán thế kỷ XX.


Bùi Giáng có công rất lớn với thi ca VN trước hết là về phương diện từ ngữ chữ của Bùi Giáng là chữ bụi bặm thường ngày; hình như người ta vứt đi và ông nhặt lên phủi phủi hà hơi vào để tất cả hóa thành thơ. Trong thơ Bùi Giáng có cả "cánh chuồn chuồn và cánh bướm". Đó chính là tập thơ Mưa nguồn mà gần đây NXB Văn học mới in lại của Bùi Giáng. Bên cạnh thơ siêu thực thơ tự do của thời thượng bấy giờ giọng thơ dân gian của Bùi Giáng đã khiến ông trở thành một hiện tượng không thể phủ nhận cũng giống như Nguyễn Bính thời tiền chiến. Ví dụ ai đã đọc những câu sau:


Làm con bé chạy đồi sim

Vấp chân hốc đá tiếng kèn nghiệt ma

Ngày mai bưng mặt khóc òa

Trời trên đất dưới hóa ra chung tình.


thì ắt không thể nghi ngờ về công của Bùi Giáng đối với thơ VN.


Thứ hai nói đến thơ VN là chắc chắn ta nghĩ đến thơ lục bát. Không hẳn vì chỉ có VN mới có thể thơ này (Chiêm Thành cũng có) mà bởi vì đó là thể thơ của nhịp hai là nhịp của cái gàu tát nước là tiếng đưa võng là nhịp của tao nôi và là nhịp của trái tim đập trong lồng ngực.


Thí dụ thứ nhất thuộc về Nguyễn Du:


Trăm năm/trong cõi/người ta


Chữ tài/chữ mệnh/khéo là/ghét nhau


Bùi Giáng cũng đi nhịp hai như vậy. Hồi chúng tôi còn trẻ (cuối thập niên 50) tôi thường lui tới một căn nhà trọ thuộc hẻm Lê Văn Duyệt (nay là đường CMTT) và đi ngang qua nhà của Bùi Giáng. Đó là một căn nhà hầu như trống trải nghe nói do một người bà con giàu có là bác sĩ Tín mua cho và gửi trước cả tiền cơm tháng dù ông Bùi Giáng có về ăn hay không. Tôi nhìn vào thấy lũ trẻ trong xóm đang ngồi đầy căn phòng miệng hò la:


- Ông Bùi Giáng! Ông đờn (đàn) đi!


Bùi Giáng làm bộ cầm một cây đàn violon và kéo vừa "hát" thơ của ông theo điệu bài chòi


Đem tôi đến giữa màu đêm

Giết tôi chết giữa người quên mặt người

Lũ trẻ vỗ tay ran ran. Chúng tiếp tục hò reo:


- Ông bùi Giáng đờn hay quá! Đờn nữa đi!


Bùi Giáng tiếp tục:


Hãy đem tôi tới ngoài xa

Giết tôi chết giữa màu hoa trên ngàn


Ông lại cười ha hả vừa đàn với cây vĩ cầm ảo tưởng vừa hát theo ý lũ trẻ: "Ông hát đi ông hát nữa đi"


Hãy đem tôi tới ngoài xa

Giết tôi chết giữa dâu Tần cỏ Yên...


Ông Bùi Giáng giống như người Nghệ ít thay đổi giọng nói. Giọng Quảng của ông phổ vào điệu bài chòi nghe gan ruột lạ lùng. Có người thấy việc kể lại rằng: Một ngày nọ ông Bùi Giáng ra hóng mát đầu hẻm thấy một người đàn ông từ lục tỉnh lên vừa đi vừa dòm những số nhà. Bùi Giáng giữ ông già lại mới biết ông đang di tìm thuê một căn nhà. Bùi Giáng đon đả:


- Mời ông vô ở với tui khỏi phải thuê nhà tui cho ông ở không lấy tiền.


Ông già lắc đầu:


- Cảm ơn thầy nhưng tôi còn ở chung với cả gia đình.


Bùi Giáng ngập ngừng một lát rồi gật đầu:


- Gia đình cũng được. Tui ở một mình buồn quá!


"Gia đình" của ông già gồm có vợ hai cô gái mà ông gọi là "con Hai con Ba" và người chồng của cô Ba là một trung sĩ (chế độ cũ). Một hôm ông trung sĩ đi chiến trường Tây Nguyên về gặp ông Bùi Giáng đang đưa cô Ba đi chơi công viên. Ông Bùi Giáng lịch sự xin phép ông trung sĩ đi chơi với cô Ba một quãng tới cái máy nước gần đó rồi đi vào trở lại "trả vợ" cho ông trung sĩ. Ông trung sĩ cười vui vẻ:


- Thầy cứ tự nhiên có sao đâu!


Và Bùi giáng lam theo lời hứa.


Một hôm cả nhà làm một bữa cơm thịnh sọan đãi ông Bùi Giáng. Nửa chừng ông già ngỏ ý gả cô Hai cho ông Bùi Giáng "vì con Ba đã có chồng rồi". Ông Bùi Giáng nói tỉnh bơ:


- Tui biết rồi. Hiềm vì cô Hai xấu quá không hạp nhãn tui.


Sau này người ta biết rằng ông Bùi Giáng yêu cô Ba mê mệt. Thỉnh thoảng người ta đọc thấy một dòng chữ viết phấn trên cái bảng đen vẽ giữa nhà: "Vì BG làm cô Ba giận nên không dám về. BG xin phép cô Ba vắng mặt...ngày...".


Hồi đó tôi dạy Việt văn ở trường Tư thục Văn Lang còn Bùi giáng dạy lớp luyện thi ở gần đó. Tôi thấy Bùi Giáng ra đề: "Nếu cho anh chọn giữa Thúy Kiều và Thúy Vân làm vợ thì anh sẽ chọn ai". Tôi cười thầm trong bụng vì tôi cũng dạy Kiều ở lớp đệ nhị. Lớp đông học trò nên dạy nửa chừng áo ông Bùi Giáng ướt dầm dề. Ông cứ tự nhiên đứng giữa lớp cởi áo ra nhét vào túi quần và lôi từ túi quần kia một cái áo nhàu nhò và mặc thay vào cũng giữa lớp. Cách dạy đó từ lối ra đề đến lối mặc áo đều bộc lộ tính tự do tuyệt đối của Bùi Giáng.


Ở Huế có một người in thiệp dòng trên tên mình thì dòng dưới ghi cả chức vụ của cha ông nội và cố toàn là quyền cao chức trọng. Bùi Giáng chẳng xem những điều đó quan trọng gì dù ông thuộc về gia đình của Hoàng Diệu. Nhân một cuộc cãi vã ông đứng trước nhà thờ họ Hoàng kêu Hoàng Diệu bằng thằng chửi vã một hồi rồi bỏ đi thẳng đến mấy chục năm.


Rồi chiến tranh làm chúng tôi xa nhau.


Sau giải phóng tôi tìm thấy một tấm thiệp mốc meo ở trong sách nhà Đinh Cường tấm thiệp chỉ ghi:


Hỏi tên rằng: "Biển - Dâu- Ngàn"


Hỏi quê rằng : "Xứ mơ màng" đã quên


Quả nhiên đó là thiệp của Bùi Giáng. Ông chỉ nhớ như vậy và đã quên cả tên của mình. Tôi nhớ Đặng Quân "ở bên Pháp" có lần nói: Quê hương nhà thơ thuộc "bông lông xã Ba la huyện". Hỏi quê rằng xứ mơ màng đã quên".


****


Tôi có thói quen khi đi đường rừng một mình thường ngâm thơ hoặc hát vang để nghe giọng người trong hoang vắng cũng đỡ cô độc. Lần ấy tôi đi lấy lá nón về lợp nhà ngâm to bài thơ sau đây:


Người trở về trên năm ngón chân

Tôi buồn người bảo có tay nâng

Bàn tay người có đầy năm ngón

Người đứng xa tôi tiến lại gần


Tôi gặp người mừng rỡ biết bao

Trời xanh như lá ở trên cao

Con chim nó nhảy trên cành lá

Người nắm tay tôi nhẹ dẫn vào


Ngôi nhà người dựng giữa trời xanh

Cửa ghép bằng cây với nhành cành

Để khép sơ sơ và cũng để

Mở mời anh chị bước vào nhanh


Hôm xưa đi đốn củi trong rừng

Lạc mất đường về chợt bỗng dưng

Sực nhớ nơi đây rừng núi thẳm

Là quê thân thiết biết bao chừng


Vừa đọc đến đoạn cuối tôi chợt nghe một giọng sang sảng vang lên sau lưng:


- Chà anh T đọc thơ hay quá . Thơ ai đó?


Nghe giọng nói tôi đoán là anh Th đang đứng bên lề con đường mòn dẫn vào cơ quan tỉnh ủy tôi lẹ miệng:


- Dạ thơ Xuân Diệu


- Ông Xuân Diệu làm thơ hay quá nhỉ? Vậy mà hồi đi học tôi không biết.


- Ai mà đọc cho hết thơ của Xuân Diệu. Ông Xuân Diệu làm thơ nhiều lắm.


Tôi quay nhìn lại thấy anh Th vội vã đi trên đường mòn. Thật ra đấy là một bài thơ của Bùi Giáng không biết bao giờ đã lọt vào trí óc tôi. Tôi nhận thức đây là một bài tóm gọn hiện tượng luận của Heidegger trong quyển "Những con đường rừng": Khách thể (ở đây là chân lý) có đặc điểm cởi mở (sẵn sàng để được nhận thức) và chủ thể thì hiểu bằng sự thông cảm. Hình như Bùi Giáng thích hiện tượng luận của Heidegger hơn thuyết hiện sinh của Jean P. Sartre. Chả thế mà trong một quyển sách viết về Heidegger Bùi Giáng đòi dùng roi quất Jean P.Sartre "để cho nó biết thế nào là triết học" và khi có người chê quyển sách ấy thì Bùi Giáng đến xóm gõ cửa đòi đánh nhau (lúc ấy Bùi Giáng còn trẻ nên rất hăng).


Tôi cho rằng cái tài năng làm thơ không cần phải đi thực tế. Một lần tôi đi ngang qua Rừng Thông một xã Trường Sơn giáp giới giữa Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị. Những o du kích đi bật hầm sau Mậu Thân lên sống tạm ở hầm hố trên núi đến độ họ bị nạn cháy rận: Các o đi ra miền Bắc ngồi giữa rừng thông bắt chấy cho nhau và khi họ vạch tóc ra thấy tóc xanh trở thành bạc vì trứng chấy. Tôi nhớ lại:



Hai bên đường ngồi lại

Những người đếm tóc nhau

Kỷ niệm về kinh hãi

Tóc xưa đã phai màu


và thầm nghĩ: Quái lạ! ông Bùi Giáng đi thực tế lúc nào mà biết cảnh này? Có lẽ ông đã thấy nó khi ông còn là một thiên thần sống trong thế giới hoàn hảo mà Platon gọi là thế giới ý niệm; ở đó ông đi dự đám rước những ý niệm trong đó có ý niệm đếm tóc trên. Ông sa đọa xuống cõi trần và trở thành nhà tiên đoán đời gọi là thi sĩ...


****


Năm ngoái tôi và Ngô Văn Tao có đến nhà riêng ở Bình Thạnh tìm Bùi Giáng. Ông Văn Tao là giáo sư toán học ở Canada thi sĩ đã in nhiều tập thơ ở trong nước và xem Bùi giáng như sư phụ...Bùi Giáng giằng điếu thuốc trên tay tôi như sợ tôi hút hết và quên mời ông nói:


- Từ đây đến chết tao còn một vạn câu thơ. nhưng mày chỉ cần nhớ hai câu này là đủ. và ông đọc:



"Ngày mai cá sống phiêu bồng


Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi"


Ông nói chuyện với tôi ngồi xổm trên nền nhà và mặc chiếc quần lãnh ở trong thò hai ống quần ra ngoài chiếc quần cộc. Nên có người nhận thấy ông choàng một tấm vải có treo lon tùm lum và rong chơi khắp phố phường. Ông tự xưng là "trung niên thi sĩ". Còn tôi coi ông là người của nỗi cô đơn không thèm nói ra. Nghe nói chiếc quần lãnh kia cũng thuộc một người đàn bà mà ông ngưỡng mộ. Trong bài thơ Phụng hiến nổi tiếng ông đã viết những câu thật là nhân ái:


Tôi gửi lại đây mấy dòng ảo não

Mấy vần thơ tuyệt vọng gửi cho em

Rồi gục đầu trên trang giấy hão

Em bảo rằng:

Đừng tuyệt vọng nghe không?

Còn mãi đây

Trang thơ thắm lại với đời hồng


Hoá ra đỡ đầu cho nỗi cô đơn của ông cũng là một bàn tay con gái...



Hoàng Phủ Ngọc Tường


(số 8 kiệt 280 Phan Bội Châu TP. Huế)


 

TẢN MẠN VỀ CÂY MƯNG


*NGUYỄN KHẮC PHƯỚC

Quê tôi có một cái đầm. Ngày xửa ngày xưa có một cô gái ngày ngày cầm dũi ra đầm dũi cá rủi thay bị sẩy chân xuống lầy mất tăm mất tích. Nghe nói cô gái linh thiêng lắm nên người ta xây miếu bên cạnh đầm để thờ. Quanh miếu dần dần mọc lên một rú rậm hầu hết là cây mưng. Mưng thích mọc bên bờ nước và chúng phát triển rất nhanh cây nào cũng cao lớn. Người dân làng cần củi đốt nhưng họ không dám vào chặt mưng vì sợ cô bắt.

Có một con suối chảy vào đầm phía tây và chảy ra phía đông vào mùa hè thường trôi lềnh bềnh những đám hoa mưng giống như hội hoa đăng đẹp không thể tả. Bọn con nít giữ trâu có đứa lấy bông mưng kết thành vòng hoa quàng cổ.

Cái đầm miếu cô và rú mưng  đã được vài trăm tuổi. Đó là khu vực linh thiêng ít ai dám xâm phạm.

Thế nhưng chẳng có gì trên đời này mà tồn tại mãi.

Cách đây chừng hai chục năm tôi về thăm quê định ra con suối ngày xưa để câu cá thì hởi ôi không hiểu vì cớ gì người ta đã đập nát miếu cô từ lúc nào. Rú mưng không còn linh thiêng nữa và bà con dân làng ta hồ vào chặt cành lấy củi. Chặt cành vì cây mọc trên đất lầy lấy gốc thì biết phơi bao giờ cho khô.

Những cây mưng có vài trăm tuổi có sức sống dẻo dai  đến kì lạ. Càng chặt chúng càng đâm nhánh mới. Lại chặt lại đâm nhánh mới. Chính vì thế nên cây mưng có hình dáng khúc khỉu uốn lượn tự nhiên biến thành những cây bon-sai cổ thụ lúc nào không hay.

Có lần gần tết tôi ngồi uống cà phê bên hè phố thấy người ta kéo cây đi bán   tôi hỏi mấy thằng bạn: Cây gì trông giống cây mưng ở quê tao vậy tụi bay? Tụi nó cười ha hả dễu cợt: Cây lộc vừng  sang trọng đáng tiền triệu của người ta mà mầy nói cây mưng cây mững gì thằng này quê quá. Tôi dòm kỹ thì đúng là cây mưng. Tôi nghĩ bụng chuyến này mình về quê bứng vài cây mưng ra phố bán thì chắc đủ tiền tiêu tết.

Nghĩ là về quê liền thế nhưng khi về đến nơi hỏi ra thì rú mưng đã bị bứng sạch không còn lấy một gốc chỉ còn trơ cái đầm nông choèn trông rất vô duyên. Bà con kể rằng có mấy người trên tỉnh về săn lùng cây kiểng vào đầm lén đào gốc mưng nhưng bị người đốn củi chặn lại. Họ trả giá rất cao và lúc này chính dân làng đua nhau đào gốc bán cho họ. Họ không gọi những cây này là cây mưng mà là lộc vừng.

Thế là hết miếu cô với những câu chuyện linh thiêng hết rú mưng rậm rạp vang lừng tiếng chim và tiếng kêu của những con cuốc mùa hè và thôi rồi con suối đầy hoa mưng đỏ trôi lềnh bềnh.

Đi đến những nhà hàng hoặc những quán cà phê sang trọng người ta lại trông thấy những cây lộc vừng phơi thân trần sần sùi đứng rất điệu đàng bên những hòn non bộ với con suối giả nước chảy róc rách trên đầu hơi nước phun mờ ão như cảnh thần tiên. Cây mưng bây giờ lên đời đã không còn cái chân quê dường như đang làm bộ làm tịch như những cô gái làng lên tỉnh bán bia mặc váy mini ngắn cũn cỡn cũng đẹp và khêu gợi chẳng kém gì ai vừa rót bia vừa xoay xoay chai rất điệu nghệ. Hiếm khi người ta thấy cây mưng ở phố trổ hoa cũng như hiếm khi người ta thấy các cô gái bán bia bưng miệng thẹn thùng khúc khích cười duyên như hồi còn ở làng quê.

Những cây mưng quê âm thầm bên đầm được người thành phố mang về tỉa tót những cô gái quê chân lấm tay bùn được thoa phấn son ăm mặc khêu gợi đươc huấn luyện để biến thành món hàng làm giàu cho những người biết cách để móc túi những gã gốc nhà quê mới giàu lên nhờ có công ăn việc làm béo bở tại thành phố.

Chuyện miếu cô tưởng như vậy là hết nhưng tháng ba âm lịch vừa rồi tôi nhận được giấy mời từ quê gởi vào "trân trọng mời anh về dự lễ khánh thành miếu cô vừa được xây dựng xong"


hoanghuuquyet

Gửi Cát Biển

2. catbien
01/13 2011 | 23:59
Thăm anh đọc được bao tin tức và bài viết về Thi sĩ Bùi Giáng hay quá!
Cám ơn anh giới thiệu.
Đúng là một bài viết giá DDungsCamr ơn Cát biển đã ghé đọc

hoanghuuquyet

pHUCgUWIR NHẠC SĨ vŨ vINH pHÚC

1. vŨ vINH pHÚC
01/13 2011 | 21:10
Kính anh Hoàng Hữu Quyết !
Thấy anh đưa bài mới em vội sang mở hàng đây. Bài viết hay phong phú bằng cả hai bài hai chủ đề ghép lại.

Chúc anh thật vui.

Cảm ơn em đã ghé đọc loạt bài trên Đặc tình quê chúc em khỏe sáng tác đều

catbien

Tình quê

Thăm anh đọc được bao tin tức và bài viết về Thi sĩ Bùi Giáng hay quá!
Cám ơn anh giới thiệu.

Vũ Vĩnh Phúc

Kính anh Hoàng Hữu Quyết !
Thấy anh đưa bài mới em vội sang mở hàng đây. Bài viết hay phong phú bằng cả hai bài hai chủ đề ghép lại.

Chúc anh thật vui